Ở thế kỷ 20, dòng máu nuôi sống nền kinh tế toàn cầu là dầu mỏ, và ai nắm giữ eo biển Hormuz sẽ nắm giữ quyền lực; nhưng đến thế kỷ 21 hiện tại, dòng chảy này đang chuyển sang những con chip silicon, và "eo biển" định mệnh trên thì dịch chuyển về một hòn đảo nhỏ bé ở Đông Á là Đài Loan.

 

Đầu năm mới muốn chia sẻ lại cho các bạn một cuốn sách hay, được nhiều lãnh đạo doanh nghiệp recommend. Đây là một cuốn sách của tác giả Chris Miller mà sẽ hữu ích cho cả dân công nghệ cũng như người ngoại đạo vì nó tóm lại cả một lịch sử địa chính trị và những chuyển biến mang tích cấu trúc trong kinh doanh, giải mã quyền lực ngầm của thế giới hiện đại. 

 

Mình cũng đã đọc được một thời gian rồi nhưng giờ mới có thời gian ngồi tóm tắt lại. Dưới đây là phần tóm tắt mà mình cho là sẽ có ích theo hiểu biết của bản thân và một số suy nghĩ sau khi đọc cuốn sách.

 

 

I. Bức tranh toàn cảnh: 5 giai đoạn của cuộc chiến vương quyền

 

Để hiểu tại sao thế giới lại phụ thuộc vào TSMC và ASML như hôm nay, sự phát triển và tiến hóa của ngành chip trong hơn 70 năm qua có thể chia làm 5 giai đoạn chính:

 

Giai đoạn 1: Sự ra đời trong chiến tranh Lạnh (1940s - 1960s). Chúng ta thường lầm tưởng Silicon Valley của Mỹ sinh ra từ thị trường tự do (silicon chính là vật liệu chính để chế tạo ra chất bán dẫn, hay các con chip cho máy tính mà ta biết ngày nay). Nhưng tác giả Chris Miller giải thích rằng ngành chip ra đời là nhờ túi tiền không đáy của Lầu Năm Góc. Trong những ngày đầu, không người dân nào đủ tiền mua chip. Chính quân đội Mỹ (cần chip dẫn đường cho tên lửa hạt nhân Minuteman II) và NASA (cần chip cho tàu Apollo) là những khách hàng đầu tiên bao tiêu sản phẩm, giúp các công ty chip đời đầu như Fairchild và Intel sống sót qua giai đoạn trứng nước. Đây cũng chính là điểm mà tác giả muốn nhấn mạnh trong phần này: công nghệ lõi thường bắt đầu từ an ninh quốc phòng trước khi được thương mại hóa.

 

Giai đoạn 2: Cú sốc từ Nhật Bản và bài học về chất lượng (1970s - 1980s). Khi công nghệ chip bắt đầu phổ biến, Mỹ tìm cách cắt giảm chi phí bằng cách đưa khâu lắp ráp sang Châu Á (ví dụ như Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, rồi Hàn Quốc). Riêng Nhật Bản không chỉ lắp ráp mà Mỹ còn bán bản quyền các phát minh công nghệ lõi thời đó cho Nhật do một số lý do liên quan đến quân sự và chính trị. Nhưng họ đã đánh giá thấp khả năng của Nhật. Với văn hóa kỷ luật và ám ảnh về sự hoàn hảo, các tập đoàn Nhật như Sony, Toshiba đã sản xuất ra loại chip nhớ (DRAM) có chất lượng vượt trội và giá rẻ hơn Mỹ - chip nhớ hiểu đơn giản là nơi lưu trữ thông tin cho máy tính, và do Intel phát minh ra thời đó. 

 

Mỹ rất giỏi phát minh, nhưng khi sản xuất và tối ưu quy trình trên quy mô lớn lại kém xa Nhật, ví dụ tỷ lệ thành công khi sản xuất ra một con chip của Nhật là 90% thì Mỹ chỉ khoảng 30-40%, điều này khiến các công ty ở Mỹ không thể cạnh tranh được về giá thành. Silicon Valley rơi vào cuộc khủng hoảng sinh tử, Intel suýt phá sản và buộc phải đưa ra quyết định từ bỏ mảng chip nhớ để chuyển sang làm bộ vi xử lý (CPU) – hiểu đơn giản là bộ não của máy tính, sử dụng thông tin đầu vào để ra quyết đinh; CPU phức tạp hơn nhiều chip nhớ và đòi hỏi tư duy thiết kế kiến trúc ở tầm cao hơn. 

 

Giai đoạn 3: Cuộc cách mạng Foundry và sự phân tách chuỗi giá trị (1990s). Đây là giai đoạn định hình lại cuộc chơi trong chuỗi giá trị ngành chip. Morris Chang, một người Mỹ gốc Hoa, nhận ra rằng không phải công ty thiết kế chip nào cũng đủ tiền xây nhà máy. Ông về Đài Loan lập ra TSMC với triết lý “Chỉ gia công, không thiết kế”. Chính quyết định này đã chia đôi thế giới bán dẫn thành 2 phần riêng biệt:

  1. Nhóm chỉ thiết kế (gọi là Fabless): như Nvidia, Qualcomm, Apple (tập trung vào chất xám, thiết kế chip).
  2. Nhóm chỉ sản xuất (hay Foundry): TSMC (tập trung vào quy mô sản xuất và dây chuyền). Sự chuyên môn hóa này giúp ngành chip bùng nổ, nhưng dần dần lại vô tình gom toàn bộ năng lực sản xuất cao cấp nhất về Đài Loan.

Thực ra đây là một chiến lược khôn ngoan của Morris Chang vì khi chỉ tập trung vào sản xuất sẽ tránh được cái nhìn từ Mỹ như là một mối đe dọa về công nghệ lõi.

 

Giai đoạn 4: "Cây búa thần" ASML và kỷ nguyên smartphone (2000s - 2010s). Trong khi Mỹ và một số nước châu Á đang đánh nhau về chip, một công ty Hà Lan tên là ASML âm thầm giải quyết một bài toán vật lý được cho là khó nhất: tạo ra máy in thạch bản cực tím (EUV). Hiểu đơn giản thì công nghệ trước đó của Nhật (tia cực tím xa – DUV) mới chỉ tạo ra được các con chip có kích cỡ 193 nanomet, để tăng số lượng bóng bán dẫn và khả năng xử lý của một con chip thì yêu cầu kích cỡ nói trên ngày càng nhỏ (sẽ chứa được nhiều bóng bán dẫn hơn). Công nghệ để tạo ra các con chip như vậy rất tốn kém và rủi ro khi làm R&D, nhưng ASML đã thành công với công nghệ EUV (tất nhiên là có sự trợ giúp về tài chính của một số bên), và cho đến nay vẫn là thiết bị duy nhất trên thế giới có thể khắc các mạch chip nhỏ hơn 7nm. 

 

Cùng lúc này thì Intel mắc một sai lầm lịch sử khi từ chối làm chip cho iPhone vì ‘chê’ biên lợi nhuận mỏng, điều này đã tạo cơ hội cho liên minh Apple - TSMC - ASML vươn lên thống trị kỷ nguyên smartphone, bỏ lại Intel phía sau. Điều chớ trêu ở đây là Intel từng là một trong những bên bơm vốn nhiều nhất của ASML để nghiên cứu công nghệ EUV, nhưng sau đó lại trần chừ khi ứng dụng công nghệ mới này. 

 

Giai đoạn 5: Vũ khí hóa sự phụ thuộc (hiện tại). Trong suốt 30 năm kể từ những giai đoạn kể trên thì thế giới chip gần như vận hành theo một thỏa thuận ngầm với sự tham gia chính của 4 bên gồm:

  • Mỹ: nắm thiết kế (bộ não) và các công cụ gốc (kể cả TSMC và ASML cũng pháp nhập công nghệ, linh kiện từ Mỹ).
  • ASML (Hà Lan): nắm giữ công nghệ in
  • TSMC (Đài Loan): nắm giữ nền tảng sản xuất/nhà máy
  • Trung Quốc: nới đóng gói, lắp ráp cuối cùng, và cũng là thị trường tiêu thụ chính.

Trung Quốc lầm tưởng rằng vì họ là công xưởng của thế giới, là khách hàng lớn nhất mua chip nên Mỹ và phương Tây không bao giờ dám cắt nguồn cung. Nhưng chính Trung Quốc cũng sớm nhận ra tử huyệt của mình khi họ nhập khẩu chip nhiều hơn cả nhập dầu. Bắc Kinh tung ra chiến lược "Made in China" để tự chủ thiết kế chip – thông qua Huawei. 

Mỹ nhận diện được mối đe dọa này và đáp trả bằng cách "rút ống thở": Họ ra đạo luật có tên là ‘Foreign Direct Product Rule’, gián tiếp cấm vận Huawei, chặn Trung Quốc được sản sản xuất ở TSMC hay tiếp cận máy móc ASML. Huawei bị cắt nguồn chip ngay lập tức dù họ có bao nhiêu tiền đi nữa, chuỗi cung ứng toàn cầu chính thức bị xẻ làm đôi.

 

Thực tế đến nay Trung Quốc mặc dù đã phát triển khá nhanh và mạnh về các ứng dụng AI trong kinh doanh cũng như đời sống, nhưng vẫn đi sau khá nhiều về khả năng tạo thiết kế ra các con chip có hiệu năng cao như của Mỹ. 

 

II. Một vài suy ngẫm rút ra từ cuốn sách:

 

1. Tư duy “Nút thắt cổ chai”

 

Trước đây chúng ta thường nghĩ công nghệ là sân chơi phẳng, nhưng tác giả Chris Miller đã chỉ ra rằng ngành bán dẫn là một cái phễu với những nút thắt cực hẹp. Một con chip của Nvidia (do Mỹ thiết kế) muốn ra đời bắt buộc phải qua tay TSMC (Đài Loan sản xuất), và TSMC muốn làm được thì bắt buộc phải mua máy của ASML (Hà Lan). Quyền lực định giá (pricing power) không nằm ở người làm ra sản phẩm cuối cùng, mà nằm ở người nắm giữ những mắt xích không thể thay thế trong chuỗi giá trị (hay còn gọi là những ‘nút thắt cổ chai’). Như ASML hay TSMC chính là những "trạm thu phí" mà cả thế giới công nghệ phải đi qua. Đây là những doanh nghiệp hiếm khi/không phải cạnh tranh về giá và đấy chính là lợi thế cạnh tranh bền vững giúp doanh nghiệp tăng trưởng, duy trì biên lợi nhuận cao. 

 

2. Sự tiến hóa liên tục của mô hình kinh doanh 

 

Câu chuyện của Intel và TSMC là bài học kinh điển về sự chuyển biến của mô hình kinh doanh. Intel theo đuổi mô hình tích hợp theo chiều dọc – làm toàn chuỗi giá trị, vì tin rằng mô hình này giúp tối ưu biên lợi nhuận. Nhưng TSMC đã chứng minh rằng trong một ngành thâm dụng vốn (cần hàng chục tỷ USD để xây nhà máy), việc chuyên môn hóa mới là tối ưu. Mô hình "Foundry" của TSMC đã trở thành bệ phóng cho hàng loạt công ty sáng tạo về sau như Nvidia, AMD ra đời mà không cần vốn quá lớn. Bài học từ case của TSMC là đổi mới sáng tạo không nhất thiết phải là phát minh ra công nghệ mới, mà là nghĩ ra cách tổ chức sản xuất mới, hiệu quả hơn.

 

3. ‘Vũ khí hóa’ sự phụ thuộc

 

Trước đây, toàn cầu hóa được tin là công cụ giữ gìn hòa bình. Nhưng cuốn sách này đã lật ngược vấn đề: khi cả thế giới phụ thuộc vào một chuỗi cung ứng, ai nắm "công tắc nguồn", (như việc Mỹ nắm thiết kế và máy móc) người đó có quyền sinh sát.

 

Điều này cũng dẫn đến thế tiến thoái lưỡng nan của Đài Loan (The Taiwan Dilemma). Nếu ai đã từng có dịp đi du lịch hay làm việc ở Đài Loan chắc đã nghe đến câu chuyện những con chip được ví như ‘tấm bùa hộ mệnh' của cả dân tộc trước rủi ro thường trực từ Trung Quốc. Việc 90% số chip tiên tiến nhất thế giới đang được sản xuất ở vùng đất có rủi ro địa chính trị không còn là vấn đề kỹ thuật, mà là vấn đề an ninh toàn cầu. Các quốc gia (Mỹ, Nhật, Âu) đang ồ ạt trợ cấp để mang nhà máy về nước (Reshoring), báo hiệu một kỷ nguyên lạm phát chi phí cao hơn nhưng an toàn hơn.

 

4. Liên hệ đến trường hợp của Việt Nam

 

2 năm gần đây Mỹ có nhắc nhiều hơn đến việc dịch chuyển chuỗi cung ứng chip sang các khu vực ngoài Trung Quốc, và Việt Nam cũng là một cái tên được nhắc đến. Với chuỗi giá trị ngành như cuốn sách đã mô tả, thì có thể hiểu Mỹ không định biến Việt Nam thành một Đài Loan thứ hai (nơi sản xuất chip siêu cấp), hay một thung lũng Silicon thứ hai (nơi sáng tạo ra công nghệ lõi). 

 

Mỹ muốn tách/giảm sự phụ thuộc khâu đóng gói và kiểm thử (packaging, assembly, testing) ở Trung Quốc, yêu cầu quan trọng là nhân công có tay nghề nhưng chi phí rẻ, chính trị ổn định, thân thiện với phương Tây. Và thực tế là Intel đã đặt một trong những nhà máy đóng gói lớn nhất của họ tại HCM, hay Amkor và Hana Micron của Hàn cũng mới khánh thành các nhà máy đóng gói lớn ở Bắc Ninh.

 

FPT thì tuyên bố muốn tham gia ở khâu thiết kế, và đâu đó là mảng giáo dục. Thực tế thì FPT cũng đã tự thiết kế được một số loại chip quản lý nguồn (PIMC), gửi bản vẽ sang Hàn hoặc Đài Loan để gia công, rồi lại mang về đóng gói, bán thương mại. Đây là các loại chip bình dân, cạnh tranh bằng giá là chính và dùng trong các thiết bị cơ bản như máy in, đồ gia dụng, …. Tất nhiên là những loại chip siêu nhỏ dưới 7nm thì FPT còn xa mới có khả năng làm được. Miếng bánh hấp dẫn hơn mà mình cho rằng FPT đang nhắm tới nằm ở mảng giáo dục, với mục tiêu đào tạo vài chục nghìn kỹ sư chip và tiếp tục trở thành trung tâm xuất khẩu lao động chất lượng cao cho chuỗi giá trị toàn cầu.